Sản xuất hữu cơ đang mở rộng nhưng số sản phẩm đạt chứng nhận còn hạn chế, khiến thị trường dễ nhầm với các mô hình chỉ áp dụng một phần quy trình canh tác.
Tại buổi làm việc với Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA) sáng 5/3, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Thanh Nam đặt ra vấn đề về thực trạng diện tích sản xuất hữu cơ ở Việt Nam đang có xu hướng thu hẹp, trong khi các mô hình sản xuất theo hướng hữu cơ ngày càng nhiều.
Ông cho rằng đạt được chứng nhận hữu cơ là quá trình khó khăn, do đó cần làm rõ khái niệm “sản phẩm nông nghiệp hướng hữu cơ” (vốn đang được dùng rộng rãi) để tránh gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.

Thứ trưởng Trần Thanh Nam chủ trì buổi làm việc với Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam. Ảnh: Bảo Thắng.
Theo quy định hiện hành, sản phẩm hữu cơ phải đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn và được tổ chức chứng nhận cấp chứng chỉ, tuân thủ các quy định trong Nghị định 109/2018/NĐ-CP về nông nghiệp hữu cơ và các tiêu chuẩn liên quan.
Quá trình chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ thường kéo dài nhiều năm, trong đó đất phải trải qua giai đoạn “chuyển đổi” để loại bỏ tồn dư hóa chất. Với cây ngắn ngày, thời gian này có thể khoảng 1 năm, còn cây lâu năm có thể kéo dài 3 năm.
Trong khi đó, sản phẩm sản xuất theo hướng hữu cơ thường là những mô hình áp dụng một số nguyên tắc của canh tác hữu cơ như giảm sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật hoặc ưu tiên vật tư sinh học. Tuy nhiên, các sản phẩm này chưa hoàn tất quy trình chuyển đổi hoặc chưa được cấp chứng nhận hữu cơ.
Nếu không phân biệt rõ hai khái niệm này, người tiêu dùng có thể hiểu rằng mọi sản phẩm gắn với cụm từ “hữu cơ” đều đạt tiêu chuẩn nghiêm ngặt như nhau. Điều này không chỉ gây nhầm lẫn trên thị trường mà còn ảnh hưởng đến uy tín của các doanh nghiệp và nông hộ đã đầu tư bài bản để đạt chứng nhận hữu cơ.
Để phát triển nền sản xuất hữu cơ, theo đề xuất của các đơn vị dự họp, Việt Nam cần xây dựng cơ sở dữ liệu về nông nghiệp hữu cơ, bao gồm thông tin về mô hình sản xuất, chuyển giao kỹ thuật và đào tạo.

Thứ trưởng Trần Thanh Nam thống nhất quan điểm cần phân loại rõ sản phẩm ‘đạt tiêu chuẩn hữu cơ’ và sản phẩm ‘sản xuất theo hướng hữu cơ’. Ảnh: Bảo Thắng.
Một trong những nội dung được VOAA đề xuất, là phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Quốc gia xây dựng các mô hình hợp tác xã hữu cơ. Từ các mô hình này có thể phát triển sản phẩm OCOP và mở rộng chuỗi giá trị.
Hiệp hội cũng kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ định đầu mối chủ trì thống kê dữ liệu về sản xuất sản phẩm hữu cơ của Việt Nam, đồng thời tạo điều kiện hơn nữa cho công tác phát triển sản phẩm hữu cơ đạt chuẩn.
Do đó, các chương trình tập huấn, đào tạo về nông nghiệp hữu cơ cần được mở rộng cho lãnh đạo địa phương, giảng viên và người trực tiếp sản xuất. Hiệp hội sẵn sàng tham gia biên soạn, xuất bản tài liệu đào tạo để sử dụng làm tài liệu tham khảo trên phạm vi cả nước.
Là đơn vị có nhiều năm phối hợp với VOAA, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia Lê Quốc Thanh cho biết, Hiệp hội đã cung cấp chuyên gia cho hệ thống khuyến nông trên cả nước, cũng như trực tiếp tham gia triển khai các mô hình sản xuất hữu cơ. Vai trò của hiệp hội là tập hợp các chuyên gia và lực lượng chuyên môn để cùng cơ quan quản lý xây dựng và nhân rộng mô hình.
Tuy nhiên, theo ông Thanh, nông nghiệp hữu cơ hiện có dấu hiệu phát triển theo xu hướng thị trường hơn là giá trị thực chất. Vì vậy cần rà soát, định dạng lại hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn trong sản xuất hữu cơ, đồng thời phân cấp rõ các mức độ sản xuất hữu cơ.
Đồng tình quan điểm này, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ Vũ Thị Hằng bày tỏ, VOAA có thể tham gia xây dựng, triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học bám sát các chính sách hiện hành như Quyết định 885/2020/QĐ-TTg của Thủ tướng về Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2030, Nghị định 109/2018/NĐ-CP về nông nghiệp hữu cơ và Thông tư 16/2019/TT-BNNPTNT của Bộ NN-PTNT (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Việc phối hợp sẽ dựa trên lĩnh vực và thế mạnh của từng địa phương, gắn với việc đạt chứng nhận hữu cơ theo quy định.
Kết luận cuộc họp, Thứ trưởng Trần Thanh Nam cho biết VOAA nên chủ động tham gia phối hợp, giám sát và phản biện việc triển khai các chương trình, chính sách liên quan đến nông nghiệp hữu cơ ngay từ giai đoạn đầu, theo chức năng quản lý của các đơn vị thuộc Bộ.
Ông cũng thống nhất quan điểm cần phân loại rõ sản phẩm “đạt tiêu chuẩn hữu cơ” và sản phẩm “sản xuất theo hướng hữu cơ”. Bộ sẽ phối hợp với hiệp hội thông qua Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường làm đầu mối tổng hợp, trao đổi thông tin định kỳ hàng quý để cập nhật dữ liệu về nông nghiệp hữu cơ.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường thống kê, đến năm 2025 Việt Nam có khoảng 174.000 ha sản xuất nông nghiệp hữu cơ, chiếm 1,4% diện tích sản xuất nông nghiệp. Dù tăng 47% so với năm 2016 và trong top 10 quốc gia tăng trưởng diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ nhanh nhất thế giới, quy mô của Việt Nam chỉ tương đương khoảng 0,18% diện tích hữu cơ toàn cầu.

